Thứ năm, 27/01/2011, 21:58 GMT+7
Nhật ký mang thai của mẹ (phần 01)
Yoga là một nghệ thuật cổ xưa có nền tảng là một môn khoa học rất tinh tế nghiên cứu về thể xác, tâm trí và tinh thần, nó không giống như những môn thể thao khác. Việc thực hành tập luyện yoga lâu dài sẽ dần dần giúp cho cơ thể người tập cảm nhận được sự yên tĩnh và sự hợp nhất của bản thân với môi trường xung quanh.

THỜI KỲ MANG THAI THỨ NHẤT (TỪ TUẦN 1- 13)

Biến đổi cơ thể ở phụ nữ mang thai

Khi mang thai, trên cơ thể người phụ nữ diễn ra một loạt những thay đổi mới. Tế bào trứng đã thụ tinh sẽ phân chia liên tục để trở thành phôi thai, sau đó thành thai nhi trưởng thành. Sau khoảng 9 tháng, thai đã có khoảng 2 tỷ tế bào các loại.

Thời gian này, cơ thể người mẹ phải cung cấp đủ thức ăn và hormon để giúp thai phát triển. Một cơ chế gen học sẽ chi phối mọi diễn biến sinh lý xảy ra trong suốt thời kỳ thai nghén. Một số phụ nữ trải qua thời gian mang thai khá nhẹ nhàng, khỏe mạnh, nhưng một số khác lại gặp những cảm giác khó chịu, lo lắng.

Khi mang thai, cơ thể phụ nữ có nhiều thay đổi: từ tóc, mặt, bụng đến chân, tay. Cơ thể người phụ nữ không thể giữ được những nét thon gọn như trước nữa, bắt đầu xuất hiện những vết rạn ở bụng, chân bị phù…

Những thay đổi từ tuần 1- 13

Thời gian 3 tháng đầu, những cơ quan chính của thai như tim, phổi, não được hình thành. Khoảng 2 tuần sau khi trứng đã làm tổ trong lớp nội mạc của tử cung, cơ thể bắt đầu thay đổi. Một số thay đổi sớm do hormon của thai và của chính cơ thể người mẹ gây ra.

+ Hiện tượng ra kinh: trái với suy nghĩ của nhiều người, thai phụ vẫn có thể ra máu kinh vào thời gian đầu thai nghén. Ra máu rải rác hay ít có thể là dấu hiệu đầu tiên về tình trạng có thai ở một số phụ nữ. Hiện tượng này không có cơ chế như cơ chế kinh nguyệt bình thường, mà do trứng làm tổ ở nội mạc tử cung gây ra.

+ Hiện tượng vú to ra và quầng vú sẫm màu: thường là dấu hiệu đầu tiên về sự có thai ở cơ thể phụ nữ; vú nhạy cảm hơn, dễ đau khi bị đụng chạm. Hai tuần sau khi thụ tinh, vú và núm vú bắt đầu to ra, quầng vú cũng trở nên sẫm màu hơn.

+ Hiện tượng mỏi mệt: hầu hết phụ nữ mới có thai đều có cảm giác mỏi mệt. Trong mấy tuần đầu, cơ thể tạo nhiều máu hơn để cung cấp chất dinh dưỡng đến thai. Vì thế tim phải hoạt động nhiều hơn để thích ứng với sự tăng cung lượng máu. Cơ thể cũng thay đổi cách sử dụng nước, tinh bột – đường (carbohydrate) và mỡ. Toàn bộ những biến đổi trên có thể góp phần gây cảm giác mệt mỏi.

+ Hiện tượng nôn về sáng: buồn nôn hay nôn xảy ra với nhiều phụ nữ trong 12 – 14 tuần đầu tiên khi có thai. Triệu trứng có xu hướng nặng lên về buổi sáng, nhưng một số phụ nữ cảm thấy buồn nôn suốt ngày, nhất là khi chưa ăn gì, dạ dày còn rỗng. Rất ít trường hợp thai phụ sút cân nhiều hay mất nước. Nguyên nhân nôn về sáng còn chưa rõ, có thể do những biến đổi về hormon hay dạ dày, ruột. Cũng có thể nặng lên do stress cảm xúc và mỏi mệt đi kèm với thai nghén.

+ Hiện tượng đi tiểu nhiều: thể tích tử cung tăng lên cùng với tăng chức năng thận gây tiểu nhiều. Cũng có một số trường hợp thai phụ bị xón tiểu khi hắt hơi, ho hay cười to. Nguyên nhân do tử cung to lên đè bẹp vào bàng quang.

+ Biểu hiện tăng cân: mặc dù có thể tăng cân từ 10 – 12 kg trong suốt thai kỳ nhưng trong 3 tháng đầu, cân nặng chỉ tăng khoảng 1kg.

+ Tử cung: trong vòng 2 tuần kể từ khi thụ thai, tử cung bắt đầu có những dấu hiệu thay đổi: nội mạc tử cung dày lên, các mạch máu trong lớp nội mạc to ra để nuôi dưỡng thai nhi đang phát triển. Nếu có thai lần đầu thì thể tích tử cung to bằng khoảng quả lê nhỏ.

+ Cổ tử cung: Bắt đầu có biểu hiện mềm hơn. Đây là một dấu hiệu để chuẩn đoán có thai.

-         Phương pháp của mẹ

+ Walnut: Hồ, sữa ong chúa hồ đào.

Đây là đơn thuốc thích ứng với sự biến đổi. Khi con người gặp vấn đề với sự thích ứng của môi trường mới thì có thể dùng đơn thuốc này, giúp thai phụ trải qua giai đoạn thích ứng nhưng không lạc mất phương hướng.

+ Cách dùng: Nhỏ 2 giọt vào trong nước hoặc đồ uống để uống trực tiếp. Sữa ong chúa tự nhiên, do tính ôn, trẻ con, phụ nữ mang thai đều có thể sử dụng được.

-         Táo bón

Do khi mang thai, lượng xeton tiết ra nhiều, làm cho các cơ trơn nhão ra, tốc độ nhu động của dạ dày, ruột giảm đi, do đó các thai phụ thường bị táo bón.

Để hạn chế hiện tượng này thì các thai phụ nên uống nhiều nước: Mỗi ngày ít nhất phải uống 1.500ml nước. Vì nước có thể duy trì hình thái của tế bào, tăng cường trao đổi chất, giúp bài trừ chất thải. Uống nhiều nước có thể giúp dễ dàng bài trừ chất thải, ngăn ngừa táo bón.

-         Phương pháp của mẹ

Để có cơ thể khỏe mạnh khi mang thai, các thai phụ cần có một chế độ ăn uống hợp lý và khoa học.

Chế độ ăn uống của người mẹ có vai trò quan trọng quyết định đối với sự phát triển của thai nhi. Người mẹ phải ăn uống cho mình và cho cả thai nhi trong bụng. Trong suốt thời kỳ mang thai, người mẹ cần tăng được từ 10 – 12kg và không nên tăng quá 18kg, như thế vừa tốt cho thai nhi và thai phụ cũng không phải lo lắng nhiều về vấn đề cân nặng sau khi sinh. Những trường hợp người mẹ bị thiếu ăn hoặc ăn uống kiêng khem không hợp lý chính là nguyên nhân của suy dinh dưỡng trong bào thai, trẻ sinh ra có cân nặng thấp dưới 2,5kg.

-         Nhu cầu dinh dưỡng

Khi có thai, nuôi con bú, nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng của người mẹ yêu cầu cao hơn ở mức bình thường. Vì nhu cầu ngoài đảm bảo cung cấp cho các hoạt động của cơ thể, sự thay đổi về sinh lý của người mẹ như biến đổi về chuyển hóa, tích lũy mỡ, tăng cân, sự tăng về khối lượng tử cung, vú, còn cần thiết cho sự phát triển của thai nhi và tạo sữa cho con bú.

+ Tăng thêm năng lượng: Nhu cầu năng lượng của thai phụ 6 tháng cuối là 2550 Kcal/ngày, như vậy, năng lượng tăng thêm hơn người bình thường mỗi ngày là 350 Kcal. Để đạt được mức tăng này, người mẹ cần ăn thêm một đến hai bát cơm. Đối với sản phụ trong thời kỳ cho con bú, năng lượng cung cấp tỷ lệ với lượng sữa sản xuất, năng lượng cần đạt được 2750 Kcal/ngày. Như vậy, năng lượng tăng thêm mỗi ngày là 550 Kcal (tương đương với 3 bát cơm mỗi ngày).

+ Bổ sung chất đạm và chất béo giúp việc xây dựng và phát triển cơ thể cho trẻ: Khi mang thai, nhu cầu chất đạm ở người mẹ tăng lên giúp việc xây dựng và phát triển cơ thể của trẻ. Ngoài cơm (và lương thực khác) ăn đủ no, bữa ăn cho thai phụ cần có thức ăn để bổ sung chất đạm và chất béo. Trước hết, cần chú ý đến nguồn chất đạm từ các thức ăn thực vật như đậu tương, đậu xanh, các loại đậu khác và vừng lạc. Đây là những thức ăn giá rẻ hơn thịt, nhưng có lượng đạm cao, lại có chất béo giúp tăng năng lượng bữa ăn và giúp hấp thu tốt các vitamin tan trong dầu (vitamin A, D, E). Chất đạm động vật đáng chú ý là các loại thủy sản như tôm, cua, cá, ốc,…nên cố gắng có thêm thịt, trứng, sữa. Nhu cầu chất đạm cho phụ nữ trong thời kỳ mang thai 3 tháng cuối: 70g/ngày, còn với sản phụ trong thời kỳ cho con bú cần cao hơn 83g/ngày.

+ Bổ sung vitamin, chất khoáng và các yếu tố vi lượng: trong khi có thai cũng như nuôi con bú. Với khẩu phần ăn cân đối sẽ đảm bảo cung cấp vitamin, các chất khoáng và các yếu tố vi lượng. Trong thời kỳ có thai, cần khuyên người mẹ nên ăn các loại thức ăn, thực phẩm có nhiều viatmin C như: rau, quả, các loại thức ăn có nhiều canxi, phốt pho (cá, cua, tôm, sữa…) để giúp cho sự tạo xương của thai nhi. Các thức ăn có nhiều sắt như thịt, trứng, các loại đậu đỗ…để đề phòng thiếu máu.

Khi cho con bú, đề phòng bệnh khô mắt do thiếu vitamin A, người mẹ nên ăn các thức ăn nhiều protein và vitamin như: Trứng, sữa, cá, thịt, đậu đỗ và các loại rau, quả có nhiều caroten (tiền viatmin A) như rau muống, rau ngót, rau dền, đu đủ, gấc, xoài…

Ngoài ra, nên cho người mẹ trong vòng một tháng đầu sau khi sinh uống một liều vitamin A 200 000 đơn vị để đủ viatmin A trong sữa cho con bú 6 tháng đầu.

-         Chế độ ăn

Trong thời kỳ có thai, nuôi con bú, chế độ ăn uống rất quan trọng vì có ảnh hưởng tới sức khỏe của cả mẹ lẫn con. Trong chế độ ăn, người mẹ không nên kiêng khem, nhưng cũng cần chú ý một số vấn đề nên hạn chế trong ăn uống như:

+ Không nên dùng các loại kích thích như: Rượu, cà phê, thuốc lá, nước chè đặc…

+ Giảm ăn các loại gi vị như ớt, hạt tiêu, tỏi, giấm.

Trong khi có thai và cho con bú, người mẹ phải ăn nhiều hơn bình thường.

Trước hết, bữa ăn cần cung cấp đủ năng lượng, nguồn năng lượng trong bữa ăn ở nước ta chủ yếu dựa vào lương thực như gạo, ngô, mỳ… Các loại khoai củ cũng là nguồn năng lượng, nhưng ít chất đạm (protein), do đó chỉ nên ăn trộn, không nên ăn chính. Gạo nên chọn loại gạo tốt, không xay xát quá trắng vì sẽ mất nhiều chất dinh dưỡng, đặc biệt là vitamin B1 chống bệnh tê phù. Trong bữa ăn, cần cung cấp đủ chất đạm (protein), vì chất đạm cần cho thai lớn, mẹ đủ sữa. Các loại thức ăn động vật như thịt, cá, trứng sữa có nhiều chất đạm quý. Nhiều loại thức ăn thực vật cũng giàu chất đạm, đó là các loại họ đậu (đậu tương, đậu xanh, đậu đen), lạc hạt, vừng. Khi có điều kiện, bữa ăn hàng ngày nên có thêm thịt, cá, nếu không cũng có thêm đậu, lạc. Trong 3 tháng cuối, mỗi ngày nên ăn thêm một quả trứng.

Các thức ăn như: Đậu tương, lạc, vừng và dầu mỡ còn cung cấp cho cơ thể chất béo, làm bữa ăn ngon miệng, nhanh tăng cân và dễ hấp thu các chất dinh dương khác.

Hằng ngày, bữa ăn của phụ nữ có thai và cho con bú không nên thiếu rau xanh là thức ăn có nhiều vitamin và chất khoáng. Các loại rau phổ biến ở nước ta như: rau ngót, rau muống, rau dền, xà lách… có nhiều vitamin C và caroten. Các loại quả chín như chuối, đu đủ, cam, xoài,… cũng rất cần thiết cho người mẹ. Nếu có điều kiện, nên ăn thêm các loại quả hằng ngày.

-         Phòng chống thiếu máu dinh dưỡng khi có thai

Thiếu máu là bệnh dinh dưỡng hay gặp ở phụ nữ có thai, đặc biệt là ở những người đẻ dày và ăn uống thiếu thốn. Bệnh thiếu máu co ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe cả mẹ lẫn con.

+ Đối với mẹ: Người mẹ thiếu máu thường mệt mỏi, chóng mặt, khó thở khi gắng sức, khi đẻ có nhiều rủi ro. Tỷ lệ tử vong khi đẻ ở những người mẹ thiếu máu cao hơn so với bà mẹ bình thường. Do đó, thiếu máu là một yếu tố nguy cơ trong sản khoa.

+ Đối với con: thiếu máu thường gây tình trạng đẻ non và tử vong sơ sinh cao. Thiếu máu dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh thường là do mẹ bị thiếu sắt nên lượng sắt dự trữ ở cơ thể trẻ thấp. Ăn uống hợp lý là biện pháp phòng chống bệnh thiếu máu tốt nhất, các thức ăn có nhiều chất sắt là các loại đậu đỗ, các loại rau xanh (rau ngót, rau dền, rau khoai, rau bí,…), các loại phủ tạng như tim, gan, thận,…

+ Bổ sung viên sắt: ngay từ khi bắt đầu có thai, tất cả các bà mẹ nên uống viên sắt. Với loại viên có hàm lượng 60mg sắt nguyên tố, ngày uống một viên trước khi ngủ. Uống liên tục trong suốt thời kỳ có thai đến một tháng sau khi sinh. Để tăng quá trình chuyển hóa và hấp thu sắt, cần tăng cường vitamin C, do đó cần ăn đủ rau xanh và quả chín.

ADM
Các tin khác:
    Thai nhi 12 tuần tuổi (14/08)
    Thai nhi 11 tuần tuổi (14/08)
    Thai nhi 9 tuần tuổi (14/08)
    Thai nhi 7 tuần tuổi (14/08)
    Thai nhi 6 tuần tuổi (14/08)
    Thai nhi 5 tuần tuổi (14/08)